Giáo Trình An Toàn Lao Động CNKTCK PDF

Summary

This is a teaching guide on labor safety for the Cắt gọt kim loại, or metal-cutting profession, covering basic concepts and techniques. It is a curriculum for intermediate and advanced vocational schools in Lào Cai, Vietnam, from 2017. The document focuses on theoretical aspects of labor safety and covers topics such as health risks, workplace hazards, safety procedures, and first aid.

Full Transcript

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: AN TOÀN LAO ĐỘNG NGHỀ: CẮT GỌT KIM LOẠI TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP + CAO ĐẲNG Lào Cai, năm 2017 Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 3 - CÔNG BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc lo...

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: AN TOÀN LAO ĐỘNG NGHỀ: CẮT GỌT KIM LOẠI TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP + CAO ĐẲNG Lào Cai, năm 2017 Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 3 - CÔNG BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 4 - LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình môn học An toàn lao động được biên soạn theo chương trình đào tạo trung cấp và cao đẳng nghề Cắt gọt kim loại do Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai ban hành ngày ….. tháng …. năm 2017. An toàn lao động là môn học lý thuyết cơ sở bắt buộc, nhằm cung cấp cho người học những kiến thức về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, kỹ thuật an toàn trong gia công cơ khí, kỹ thuật an toàn điện, các biện pháp phòng chống cháy nổ và các phương pháp sơ cứu người bị tại nạn thông thường… Nội dung giáo trình được biên soạn với tinh thần phân tích và trình bày ngắn gọn, dễ hiểu. Các kiến thức trong toàn bộ giáo trình có mối liên hệ chặt chẽ và lôgíc, để gắn lý thuyết với thực tế. Nội dung của giáo trình được biên soạn gồm 2 chương: Chương 1: Những khái niệm cơ bản về bảo hộ và an toàn lao động. Chương 2: Kỹ thuật an toàn lao động. Trong quá trình biên soạn mặc dù đã cố gắng, nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót do thời gian biên soạn còn ngắn và trình độ còn hạn chế. Rất mong được sự góp ý của người sử dụng để giáo trình được hoàn thiện hơn. Tác giả Ths. Hoàng Anh Thái Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 5 - HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 1. Một số điểm chính về phương pháp giảng dạy môn học. - Sử dụng các trang thiết bị và hình ảnh để minh họa trực quan trong giờ học lý thuyết. - Môn học không đi sâu vào kỹ năng thực hành, tuy nhiên sau mỗi bài học, học sinh cần có kỹ năng nhận dạng và sử dụng đúng, hợp lý các dụng cụ, thiết bị phòng cháy, chữa cháy và bảo hộ lao động thông dụng. - Chú ý rèn luyện kỹ năng phân tích và phát hiện được một số tình huống không an toàn trong lao động. - Giáo viên trước khi giảng dạy cần phải căn cứ vào chương trình khung và điều kiện thực tế tại trường để chuẩn bị chương trình chi tiết và nội dung giảng dạy đầy đủ, phù hợp để đảm bảo chất lượng dạy và học. - Phần thực hành của môn học được thực hiện ở dạng các bài tập về nhà. 2. Những trọng tâm chương trình cần chú ý. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, các nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và các biện pháp an toàn lao động. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 6 - MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU 3 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN GIÁO TRÌNH 4 MỤC LỤC 5 Chương 1: Những khái niệm cơ bản về Bảo hộ lao động và an toàn 6 lao động 1. Những khái niệm cơ bản về bảo hộ lao động và công tác an toàn lao 6 động. 2. Nguyên nhân gây ra tai nạn lao động 10 3. Ảnh hưởng của vi khí hậu, bức xạ ion hoá và bụi. 11 4. Ảnh hưởng của Tiếng ồn và rung động. 18 5. Ảnh hưởng của điện từ trường và hoá chất độc. 23 6. Ảnh hưởng của ánh sáng, màu sắc và gió. 28 Chương 2: Kỹ thuật an toàn lao động. 33 1. Kỹ thuật an toàn trong gia công cơ khí. 33 2. Kỹ thuật an toàn điện. 36 3. Kỹ thuật an toàn thiết bị nâng hạ và phòng chống cháy, nổ. 38 4. Sơ cứu nạn nhân bị tai nạn lao động. 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 7 - CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM BẢO HỘ VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ VÀ CÔNG TÁC AN TOÀN LAO ĐỘNG. 1.1. Mục đích, ý nghĩa của công tác BHLĐ. 1.1.1. Mục đích của công tác BHLĐ. Là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại được phát sinh trong quá trình sản xuất, từ đó cải thiện điều kiện lao động hoặc tạo điều kiện an toàn trong lao động, ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng người lao động và cơ sở vật chất, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động. 1.1.2. Ý nghĩa của công tác BHLĐ. Bảo hộ lao động (BHLĐ) trước hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất. Bảo hộ lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người nên nó mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Mặt khác, nhờ chăm lo sức khoẻ của người lao động mà công tác BHLĐ mang lại hiệu quả xã hội và nhân đạo rất cao. BHLĐ là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, điều hành và triển khai sản xuất. BHLĐ mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị và xã hội. Lao động tạo ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Bất cứ dưới chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất. Xây dựng giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ người lao động. Trí thức mở mang cũng nhờ lao động (lao động trí óc) vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài người. 1.2. Tính chất và nhiệm vụ của công tác BHLĐ. 1.2.1. Tính chất. BHLĐ Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính quần chúng. a. BHLĐ mang tính chất pháp lý. Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện. Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nước. Xuất phát từ quan điểm: Con người là vốn quý nhất, nên luật pháp về bảo hộ lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, mọi cơ sở kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, và Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 8 - thực hiện. Đó là tính pháp lý của công tác bảo hộ lao động. b. BHLĐ mang tính KHKT. Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp... đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT. Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật. Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái, muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp không những phải có hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá v.v... mà còn cần có các kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động v.v...Vì vậy công tác bảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp. c. BHLĐ mang tính quần chúng. Tất cả mọi người từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là đối tượng cần được bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công tác BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác. Bảo hộ lao động có liên quan đến tất cả mọi người, tham gia sản xuất, công nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui trình công nghệ v.v... Do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng, các biện pháp về kỹ thuật an toàn, tham gia ý kiến về mẫu mực, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc v.v... Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảo mọi người tham gia. Cho nên BHLĐ chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành, quan tâm, được mọi người lao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các luật lệ, chế độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người và trước hết là người trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội. Vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng sâu rộng. 1.2.1. Nhiệm vụ của công tác BHLĐ. - Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn trong lao động. - Đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động không tốt gây nên. - cham lo Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động. 1.3. Những khái niệm cơ bản về BHLĐ. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 9 - 1.3.1. Điều kiện lao động và tai nạn lao động. a. Điều kiện lao động. Là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã hội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng như các tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người tạo nên những điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người. Điều kiện lao động nên xét cả về hai mặt: công cụ lao động và phương tiện lao động. Những công cụ và phương tiện đó có tiện nghi, thuận lợi hay gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động cũng ảnh hưởng đến người lao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng xạ,... Những ảnh hưởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hay hiện đại, lạc hậu hay tiên tiến), môi trường lao động rất đa dạng , có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay nghược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động lớn đến sức khoẻ của người lao động. b. Tai nạn lao động. Tai nạn lao động là tai nạn không may xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động làm tổn thương, làm ảnh hưởng sức khoẻ, làm giảm khả năng lao động hay làm chết người. Tai nạn lao động còn được phân ra: chấn thương, nhiểm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp - Chấn thương: là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thương hay huỷ hoại một phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong. Chấn thương có tác dụng đột ngột. - Nhiểm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các chất độc xâm nhập vào cơ thể ngươì lao động trơng điều kiện sản xuất - Bệnh nghề nghiệp: là sự làm suy yếu dần dần sức khoẻ hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của người lao động do kết quả tác dụng của những điều kiện làm việc bất lợi (tiếng ồn, rung,...) hoặc do thường xuyên tiếp xúc với các chất độc hại như sơn, bụi ,... Bệnh nghề nghiệp có ảnh hưởng làm suy yếu sức khoẻ một cách dần dần và lâu dài. 1.3.2. Các yếu tố nguy hiểm và có hại trong quá trình sản xuất. Trong một điều kiện lao động củ thể, bao giờ cũng xuất hiện cac yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Cụ thể là: - Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 10 - - Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ. - Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn. - Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh. - Các yếu tố tâm lý không thuật lợi... đều là những yếu tố nguy hiểm và có hại. 1.4. Công tác tổ chức BHLĐ. 1.4.1. Các biện pháp BHLĐ bằng văn bản pháp luật. a. Hệ thống luật pháp chế độ chính sách BHLĐ của Việt nam. Hệ thống pháp luật BHLĐ gồm 3 phần: Phần I: Bộ luật lao động và các luật khác có liên quan đến ATVSLĐ. Phần II: Nghị định 06/CP và các nghị định khác liên quan đến ATVSLĐ. Phần III: Các thông tư, Chỉ thị, Tiêu chuẩn qui phạm ATVSLĐ. b. Đối tượng và phạm vi áp dụng. Đối tượng và phạm vi được áp dụng các qui định về ATLĐ, VSLĐ bao gồm: Mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động, mọi công chức, viên chức, mọi người lao động kể cả người học nghề, thử việc trong các lệnh vực, các thành phần kinh tế, trong lực lượng vũ trang và các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế đóng trên lãnh thể Việt nam. 1.4.2. Biện pháp tổ chức. - Hội đồng quốc gia về ATLĐ, vệ sinh lao động gọi tắt là BHLĐ có nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ và tổ chức phối hợp hoạt động của các ngành các cấp về ATLĐ, VSLĐ. - Bộ LĐTBXH thực hiện quản lý nhà nước về ATLĐ đối với các ngành các cấp trong cả nước, có trách nhiệm: Xây dựng, chương trình ban hành hoặc ban hành các văn bản pháp luật, chế độ chính sách BHLĐ, hệ thống quy phạm nhà nước về ATLĐ, tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động. Thanh tra về ATLĐ, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ATLĐ. - Bộ Y tế thực hiện quản lý Nhà nước trong lĩnh vực vệ sinh lao động, có trách nhiệm: xây dựng, chương trình ban hành, ban hành và quản lý thống nhất hệ thống quy phạm vệ sinh lao động, tiêu chuẩn sức khoẻ đối với các nghề, công việc. Thanh tra về vệ sinh lao động, tổ chức khám sức khoẻ và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vệ sinh lao động. - Bộ khoa học công nghệ và môi trường có trách nhiệm: Quản lý thống nhất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật về ATLĐ, VSLĐ. Ban hành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, quy cách các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 11 - động. - Bộ giáo dục và đào tạo: Có trách nhiệm chỉ đạo việc đưa nội dung ATLĐ, VSLĐ vào chương trình giảng dạy trong các trường đại học, các trường kỹ thuật, quản lý và dạy nghề. - Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về ATLĐ, VSLĐ trong phạm vi địa phương mình. Xây dựng các mục tiêu đảm bảo an toàn, vệ sinh và cải thiện điều kiện lao động đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và ngân sách địa phương. 2. NGUYÊN NHÂN GÂY RA TAI NẠN LAO ĐỘNG. 2.1. Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương trong sản xuất. - Các bộ phận và cơ cấu sản xuất: cơ cấu chuyển động, trục, khớp nối truyền động, đồ gá, các bộ phận chuyển động tịnh tiến. - Các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công văng bắn ra: dụng cụ cắt, đá mài, phôI, chi tiết gia công v.v.. - Điện giật phụ thuộc các yếu tố như cường độ dòng điện, đường đi của dòng điện qua cơ thể, thời gian tác đông, đặc điểm cơ thể v.v.. - Các yếu tố về nhiệt: kim loại nóng chảy,vật liệu được nung nóng, thiết bị nung, khí nóng, hơi nước nóng.. có thể làm bỏng các bộ phận của cơ thể. - Chất độc công nghiệp. - Các chất lỏng hoạt tính: các axít và kiềm ăn mòn. - Bụi công nghiệp: gây các tổn thương cơ học, bụi độc hay nhiễm độc sinh ra các bệnh nghề nghiệp, cháy nổ, hoặc ẩm điện gây ngắn mạch. - Nguy hiểm nổ: nổ hoá học và nổ vật lý. - Những yếu tố nguy hiểm khác: làm việc trên cao không đeo dây an toàn, vật rơi từ trên cao xuống, trượt trơn vấp ngã khi đi lại. 2.2. Các nguyên nhân gây ra tai nạn lao động. 2.2.1. Nguyên nhân kỹ thuật. - Máy, trang bị sản xuất, quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, có hại: tồn tại các khu vực nguy hiểm, bụi khí độc, hỗn hợp nổ, ồn, rung, bức xạ có hại, điện áp nguy hiểm v.v.. - Máy, trang bị sản xuất được thiết kế, kết cấu không thích hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người sử dụng. - Độ bền của chi tiết máy không đảm bảo gây sự cố trong quá trình sử dụng. - Thiếu thiết bị che chắn an toàn: các bộ phận chuyển động, vùng có điện áp nguy hiểm, bức xạ mạnh.. - Thiếu hệ thống phát tín hiệu an toàn, các cơ cấu phòng ngừa quá tải như van Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 12 - an toàn, phanh hãm, cơ cấu khống chế hành trình. - Thiếu sự kiểm nghiệm các thiết bị áp lực trước khi đưa vào sử dụng. - Thiếu hoặc không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân. 2.2.2. Các nguyên nhân về tổ chức và vận hành máy. - Tổ chức chỗ làm việc không hợp lý: chật hẹp, tư thế thao tác khó khăn.. - Bố trí máy, trang bị sai nguyên tắc, sự cố trên máy này có thể gây nguy hiểm cho nhau. - Thiếu phương tiện đặc chủng cho người lao động làm việc phù hợp.. - Tổ chức huấn luyện, giáo dục BHLĐ không đạt yêu cầu. 2.2.3. Các nguyên nhân vệ sinh. - Vi phạm các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp khi thiết kế nhà máy hay phân xưởng sản xuất. - Điều kiện vi khí hậu xấu, vi phạm tiêu chuẩn cho phép. - Chiếu sáng chỗ làm việc không hợp lý, độ ồn rung vượt quá tiêu chuẩn. - Trang bị bảo hộ cá nhân không đảm bảo đúng yêu cầu sử dụng của người lao động. - Không thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu vệ sinh cá nhân. 3. ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHÍ HẬU, BỨC XẠ, ION HÓA VÀ BỤI 3.1. Khái niệm về vệ sinh lao động. Vệ sinh lao động là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại trong sản xuất đối với sức khỏe người lao động, tìm các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp và nâng cao khả năng lao động cho người lao động. 3.2. Vi khí hậu trong sản xuất. 3.2.1. Nhiệt độ, độ ẩm tương đối và bức xạ nhiệt. a. Nhiệt độ không khí. Nhiệt độ là yếu tố khí tượng quan trọng trong sản xuất, phụ thuộc vào các nguồn phát nhiệt: lò nung, ngọn lửa, năng lượng điện, cơ biến thành nhiệt, phản ứng hoá học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời.v.v...chúng có thể làm cho nhiệt độ 0 không khí lên đến 50 - 60 C. Khi nhiệt độ tăng cơ thể người có các hiện tượng: tăng sự mệt mỏi, giảm khả năng lao động, tim đập nhanh, huyết áp tăng, giảm hoạt động các cơ quan tiêu hoá, tăng sự phân bổ máu ở da, tăng sự bài tiết mồ hôi. Điều lệ quy định nhiệt độ tối đa cho phép ở nơi làm việc của công nhân về mùa hè là 30 độ và không được vượt quá nhiệt độ bên ngoài từ 3ữ50C. Nơi sản xuất nóng như đúc, luyện cán thép,... nhiệt độ không quá 40oC. Khi nhiệt độ cao hơn sẽ sinh ra các biến đổi về sinh lý và bệnh lý. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 13 - Lao động ở nhiệt độ lạnh dể gây bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp (viêm phế quản...) khô niêm mạc gây cảm lạnh... b. Độ ẩm tương đối. Độ ẩm tương đối là thương số của độ ẩm tuyệt đối của không khí và độ ẩm cực đại ứng với cùng nhiệt độ. Độ ẩm là nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân. - Khi độ ẩm quá cao, lượng ôxy mà cơ thể hút vào phổi bị giảm do hàm lượng hơi nước trong không khí tăng, làm cho cơ thể thiếu ôxy, sinh ra uể oải, phản xạ chậm, dể gây tai nạn. Khi độ ẩm cao còn làm tăng sự đọng nước, làm cho việc đi lại trên nền xi măng bị trơn, dễ ngã. Độ ẩm cao còn tăng khả năng truyền dẫn điện, dể chạm mát đối với mạch điện của các máy điện và truyền điện vào môi trường ẩm, gây ra tai nạn điện giật. - Khi độ ẩm thấp, không khí hanh khô, da khô nẻ, nhất là những người tiếp xúc với dầu mỡ, lớp mỡ trên da bị dầu mỡ hoà tan càng làm mặt da khô cứng, càng dể bị khô nứt. Các vết nứt nẻ trên da làm cho chân tay bị đau đớn, giảm độ linh hoạt và đó cũng là nguyên nhân xảy ra các tai nạn lao động. Độ ẩm tương đối thích hợp khoảng 75 ÷ 85 %. Khi độ ẩm quá cao có thể bố trí hệ thống thông gió với lượng không khí khô thích hợp để điều chỉnh độ ẩm. c. Bức xạ nhiệt. Bức xạ nhiêt là những hạt năng lượng truyền trong không khí dưới dạng dao động sóng điện từ bao gồm tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử ngoại. Khi nung các vật thể kim loại tới 5000C chỉ phát ra tia hồng ngoại, nung tới 18000÷ 20000C còn phát ra tia sáng thường và tia tử ngoại, nung tiếp đến 30000C lượng tia tử ngoại phát ra càng nhiều. 3.2.2. Tác hại của vi khí hậu và các biện pháp đề phòng. a. Tác hại của vi khí hậu. - Tác hại của vi khí hậu nóng. Biến đổi về sinh lý: Nhiệt độ da đặc biệt là da trán rất nhảy cảm đối với nhiệt độ không khí bên ngoài. Biến đổi về cảm giác của da trán như sau: 0 0 28÷29 C → cảm giác lạnh; 29 ÷ 30 C → cảm giác mát; 0 0 30 ÷ 31 C → cảm giác dể chịu; 31,5 ÷ 32,5 C → cảm giác nóng; 0 0 32,5 ÷ 33,5 C → cảm giác rất nóng; > 33,5 C → cảm giác cực nóng. 0 Thân nhiệt (ở dưới lưỡi) nếu thấy tăng thêm 0,3 ÷ 1 C là cơ thể có sự tích 0 nhiệt. Thân nhiệt ở 38,5 C được coi là nhiệt báo động, có nguy hiểm, sinh chứng say nóng. Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường tăng lên gấp đôi so với lúc bình thường. Rối loạn bệnh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chứng say nóng và Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 14 - chứng co gật, làm cho con người bị chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lưng. 0 Thân nhiệt có thể lên cao tới 39 ÷ 40 C, mạch nhanh, nhịp thở nhanh. Trường hợp nặng cơ thể bị choáng, mạch nhỏ, thở nông. - Tác hại của vi khí hậu lạnh. Lạnh làm cho cơ thể mất nhiệt nhiều, nhịp tim, nhịp thở giảm và tiêu thụ ôxy tăng. Lạnh làm các mạch máu co thắt sinh cảm giác tê cóng chân tay vận động khó khăn. Trong điều kiện vi khí hậu lạnh thường xuất hiện một số bệnh viêm dây thần kinh, viêm khớp, viêm phế quản, hen và một số bệnh mãn tính khác do máu lưu thông kém và sức đề khác của cơ thể giảm. - Tác hại của bức xạ nhiệt. Trong các phân xưởng nóng, các dòng bức xạ chủ yếu do các tia hồng ngoại có bước sóng đến 10 μm, khi hấp thụ tia này toả ra nhiệt, bức xạ nhiệt phụ thuộc vào độ dài bước sóng, cường độ dòng bức xạ, thời gian chiếu xạ, diện tích bề mặt bị chiếu, vùng bị chiếu, gián đoạn hay liên tục, góc chiếu, luồng bức xạ và quần áo. Tia hồng ngoại có bước sóng ngắn (đặc biệt là loại có bước sóng khoảng 3 μm) rọi sâu vào dưới da đến 3mm, gây nên bỏng da, rộp phồng da ngoài ra còn gây ra bệnh đục nhân mắt. Làm việc ngoài trời nóng, im gió, oi bức, tia bức xạ nhiệt có thể xuyên qua hộp xương sọ vào tổ chức não, hun nóng tổ chức não, màng não gây ra các biến đổi quan trọng mà ta gọi là say nắng. Tia tử ngoại có 3 loại: Loại A có bước sóng từ 400 ÷ 315μm. Loại B có bước sóng từ 315 ÷ 280 μm. Loại C có bước sóng nhỏ hơn 280 μm. Tia tử ngoại loại A xuất hiện ở nhiệt độ cao hơn thường có trong tia lửa hàn, đèn dây tóc, đèn huỳnh quang; tia tử ngoại B thường xuất hiện trong đèn thuỷ ngân, lò hồ quang v.v...Tia tử ngoại làm bỏng da, phá huỷ giác mạc thị lực giảm, đau đầu, chống mặt, ung thư da. b. Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu. - Biện pháp kỹ thuật. Áp dụng các tiến bộ KHKT như điều khiển từ xa, cơ khí hoá, tự động hoá các quá trình sản xuất, thực hiện thông gió tốt điều hoà không khí, đảm bảo thông thoáng và mát nơi làm việc. Cách ly nguồn nhiệt đối lưu và bức xạ ở nơi lao động, bằng cách dùng những vật liệu cách nhiệt để bao bọc quanh lò, quanh ống dẫn; dùng màn nước để hấp thụ các tia bức xạ ở trước cửa lò. - Biện pháp vệ sinh y tế. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 15 - Trước hết cần quy định chế độ lao động thích hợp cho từng ngành nghề thực hiện trong điều kiện vi khí hậu xấu. Khám tuyển khi nhận người, khám kiểm tra sức khoẻ định kỳ để kịp thời phát hiện bệnh và điều trị. - Biện pháp tổ chức. Tổ chức lao động, đảm bảo chế độ ăn uống bồi dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý để nhanh chóng phục hồi sức lao động. Trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ như áo quần chống nóng, chống lạnh, khẩu trang, kính mắt v.v.... 3.3. Bức xạ ion hoá. 3.3.1. Khái niệm. Là dòng các hạt và bức xạ, khi đi qua các chất làm ion hoá và kích thích những nguyên tử và phân tử của vật chất. Các dòng hạt trong bức xạ ion hóa là các dòng hạt điện tử, pozitron, nơtron và những hạt cơ bản khác, cũng như các hạt nhân nguyên tử những bức xạ điện tử trong bức xạ ion hóa là các tia gamma, tia rơnghen và bức xạ vùng tần số quang học. 3.3.2 Ảnh hưởng của bức xạ ion hóa và các biện pháp đề phòng. a. Ảnh hưởng của bức xạ ion hóa. Quá trình tương tác giữa bức xạ ion hóa và vật chất, được sử dụng để ghi nhận và đo đạc các bức xạ khác nhau, nghiên cứu tác hại của phóng xạ đối với sinh vật và con người, gây đột biến để tạo giống mới, chẩn đoán và điều trị bệnh (vd. bệnh ung thư), cũng như trong nghiên cứu khoa học và nhiều quá trình kĩ thuật và công nghệ khác nhau: thăm dò khuyết tật của các sản phẩm công nghiệp, đo đạc và điều khiển quá trình sản xuất, đánh dấu bằng phóng xạ, vv. Từ nhiều năm nay nhiều loại phóng xạ (tia gamma, X., nơtron…) được ứng dụng trong công nghiệp và thương mại. Các phóng xạ này xuyên qua vật chất và làm thay đổi cấu trúc hoá học. Đặc biệt, đối với các vật sống, chúng có thể tạo ra các thương tích và gây các đột biến cho bộ phận trong cơ thể. Bức xạ ion hóa có thể gây ra tổn thương tế bào dẫn đến ung thư. Loại bức xạ này đến từ các tia bên ngoài đi qua tầng khí quyển của trái đất, bụi phóng xạ, khí radon, tia X và các nguồn khác. b. Các biện pháp đề phòng bức xạ ion hóa. Để đề phòng bức xạ ion hóa, người ta chú ý các biện pháp bảo vệ, để ngăn ngừa tình trạng chiếu xạ, bằng khoảng cách, màn che chắn, thời gian và cách ly. - Bảo vệ bằng khoảng cách: + Lượng chiếu xạ giảm rất nhanh theo khoảng cách. Thực tế, lượng của một nguồn phóng xạ, ở một điểm, tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ điểm tới nguồn. Thí dụ cách nguồn 1 mét, người ta đo được cường độ 270 Rem/giờ, thì: + Cách 3m, cường độ là 270/32 = 30 Rem/giờ. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 16 - + Cách 10m, cường độ còn 270/102 = 2,70 Rem/giờ Như vậy, cần tránh xa nguồn phóng xạ khi thao tác. Phải dùng các kẹp dài hoặc các phương tiện điều khiển từ xa. - Bảo vệ bằng che chắn: Một tia phóng xạ mất đi một phần hoặc toàn phần năng lượng khi đâm xuyên qua vật chất. Hiện tượng này phụ thuộc vào tia phóng xạ và màn che chắn. + Tia anpha: một màn che rất mỏng cũng giữ lại được. + Tia bêta: tia β được giữ lại bởi một màn che có độ dày vừa đủ, bằng các vật liệu nhẹ. + Tia gamma: màn che bằng chì và phải dày (tường bê tông, kính pha chì, dày hàng chục centimét). Tuy nhiên, tia γ không bao giờ bị chặn giữ lại hoàn toàn. Do đó, có các màn che có độ dày - một nửa, độ dầy - một phần ba, độ dày - một phần mười… nghĩa là độ dày vẫn để đi lọt qua một liều phóng xạ gamma là một nửa, một phần ba, một phần mười… + Tia nơtron: Các màn che có thể làm giảm tia nơtron. Nhưng nơtron có tính chất làm cho các màn che chắn phát ra phóng xạ Các chất có hydro như nước, parafin, hay các chất như bo, cadmi…có tác dụng che chắn tốt - Bảo vệ bằng thời gian: Hoạt tính của một nguyên tố phóng xạ giảm theo thời gian và do đó lưu lượng liều phóng xạ phát ra cũng như vậy. - Bảo vệ bằng cách ly với quần áo bảo hộ lao động: Quần áo bảo hộ lao động và trang bị phòng hộ khác có tác dụng bảo vệ chống sự nhiễm xạ ngoại chiếu và nội chiếu, ngoài ra còn có thể phần nào chống sự chiếu xạ. Cụ thể, để đề phòng những tia phóng xạ từ ngoài vào người ta sử dụng những tấm che chắn bằng chì, băng bêtông đối với tia X, tia gamma; bằng chất dẻo đối với tia β, bằng bo, cadmi đối với các hạt nơtron. Cần phải chú ý thao tác với các chất phóng xạ từ xa, giới hạn thời gian lao động để tránh hấp thụ quá liều tối đa cho phép. Mặt khác, nên thường xuyên đo kiểm tra tình hình nhiễm xạ tại nơi làm việc. Công nhân viên khi làm việc được mang một chiếc máy đo liều phóng xạ, dưới hình thức bút, phim,... Để tránh ăn hoặc hít thở phải, người ta thường để các chất phóng xạ cách biệt một nơi, đeo găng tay cao su pha chì khi thao tác, mặc quần áo không thấm nước và giặt giũ được sau khi lao động và tắm rửa trước khi về nhà. Phải có hệ thống thông gió, hút bụi hoạt động tốt và đeo khẩu trang chống bụi khi cọ rửa nơi làm việc. Cần tổ chức khám tuyển cho công nhân, khám sức khoẻ chung và thử máu. Trong các đợt khám sức khoẻ định kỳ hàng tháng hoặc từ 3 đến 6 tháng, chú ý tiến hành xét nghiệm máu để phát hiện sớm các biểu hiện bệnh lý do phóng xạ gây ra. Xét nghiệm máu là một biện pháp phát hiện bệnh rất thông dụng. Không cần phải để bệnh nhân nhịn đói. Nên thử vào buổi sáng, bệnh nhân có thể ăn sáng (không Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 17 - ăn thịt) vài giờ trước đó và được nghỉ ngơi. Ngoài ra, rất cần khám bệnh ngoài da. Phải dặn dò những người tiếp xúc nhất thiết phải đi khám bệnh khi có biến đổi ở da. Cần chú ý vị trí, điện tích và tính chất tiến triển của tổn thương. Như vậy, theo dõi sức khoẻ công nhân tiếp xúc phải dựa chủ yếu vào sự biến đổi máu tuần hoàn, vào tình trạng da và niêm mạc, vào biến đổi tuỷ xương và chức năng sinh sản. Nếu phát hiện được bệnh, phải gửi đi điều trị và điều dưỡng. Sau đó, gửi bệnh nhân đến hội đồng giám định y khoa để xác định tỷ lệ mất khả năng lao động. 3.4. Bụi. 3.4.1. Phân loại bụi và tác hại của bụi. a. Định nghĩa. Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước lớn, nhỏ khác nhau tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù; khi những hạt bụi nằm lơ lững trong không khí gọi là aerozon, khi chúng đọng lại trên bề mặt vật thể nào đó gọi là aerogen. b. Phân loại bụi. - Theo nguồn gốc: bụi kim loại (Mn, Si, gỉ sắt,... ); bụi cát, bụi gỗ; bụi động vật: bụi lông, bụi xương; bụi thực vật: bụi bông, bụi gai; bụi hoá chất (grafit, bột phấn, bột hàn the, bột xà phòng, vôi...) - Theo kích thước hạt bụi: Bụi bay có kích thước từ 0,001÷10 μm; các hạt từ 0,1 ÷ 10 μm gọi là mù, các hạt từ 0,001 ÷ 0,1 μm gọi là khói chúng chuyển động Brao trong không khí. Bụi lắng có kích thước >10 μm thường gây tác hại cho mắt. - Theo tác hại: Bụi gây nhiễm độc (Pb, Hg, benzen...); bụi gây dị ứng; bụi gây ung thư như nhựa đường, phóng xạ, các chất brôm; bụi gây xơ phổi như bụi silic, amiăng... c. Tác hại của bụi. Bụi có tác hại đến da, mắt, cơ quan hô hấp, cơ quan tiêu hoá, các hạt bụi này bay lơ lững trong không khí, khi bị hít vào phổi chúng sẽ gây thương tổn đường hô hấp. Khi chúng ta thở nhờ có lông mũi và màng niêm dịch của đường hô hấp mà những hạt bụi có kích thước lớn hơn 5 μm bị giử lại ở hốc mũi tới 90%. Các hạt bụi kích thước (2 ÷ 5) μm dể dàng theo không khí vào tới phế quản, phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào bao vây và tiêu diệt khoảng 90% nữa, số còn lại đọng ở phổi gây nên bệnh bụi phổi và các bệnh khác (bệnh silicose, asbestose, siderose,...). - Bệnh phổi nhiễm bụi thường gặp ở những công nhân khai thác chế biến, vận chuyển quặng đá, kim loại, than v.v... Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 18 - - Bệnh silicose là bệnh do phổi bị nhiễm bụi silic ở thợ khoan đá, thợ mỏ, thợ làm gốm sứ, vật liệu chịu lửa v.v...Bệnh này chiếm 40 ÷ 70% trong tổng số các bệnh về phổi. Ngoài còn có các bệnh asbestose (nhiễm bụi amiăng), aluminose (bụi boxit, đất sét), siderose (bụi sắt). - Bệnh đường hô hấp: viêm mũi, viêm họng, phế quản, viêm teo mũi do bụi crôm, asen. - Bệnh ngoài da: bụi có thể dính bám vào da làm viêm da, làm bịt kín các lỗ chân lông và ảnh hưởng đến bài tiết; bụi có thể bịt các lỗ của tuyến nhờn gây ra mụn; lở loét ở da; viêm mắt, giảm thị lực, mộng thịt. - Bệnh đường tiêu hoá: Các loại bụi sắc cạnh nhọn vào dạ dày có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày, gây rối loạn tiêu hoá. - Bụi hoạt tính dễ cháy nếu nồng độ cao, khi tiếp xúc với tia lửa dễ gây cháy, nổ rất nguy hiểm. - Bụi còn gây ra chấn thương mắt: bụi kiềm, axit có thể gây ra bỏng giác mạc làm giảm thị lực. 3.4.2. Các biện pháp đề phòng bụi. a. Biện pháp kỹ thuật. Bao kín thiết bị và dây chuyền sản xuất. Cơ khí hoá và tự động hoá quá trình sản xuất sinh bụi để công nhân không phải tiếp xúc với bụi. Thay đổi phương pháp công nghệ. Sử dụng hệ thống thông gió, hút bụi trong các phân xưỡng có nhiều bụi. b. Biện pháp y học. Khám và kiểm tra sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm bệnh để chữa trị, phục hồi chức năng làm việc cho công nhân.Dùng các phương tiện bảo vệ cá nhân (quần áo, mặt nạ, khẩu trang). c. Lọc bụi trong sản xuất công nghiệp. Ở các nhà máy sản xuất công nghiệp lượng bụi thải vào môi trường không khí rất lớn như các nhà máy xi măng, nhà máy dệt, nhà máy luyện kim v.v... Để làm sạch không khí trước khi thải ra môi trường, ta phải tiến hành lọc sạch bụi đến giới hạn cho phép. Ngoài ra có thể thu hồi các bụi quý. Để lọc bụi, người ta sử dụng nhiều thiế bị lọc bụi khác nhau và tuỳ thuộc vào bản chất các lực tác dụng bên trong thiết bị, người ta phân ra các nhóm chính sau: Buồng lắng bụi: quá trình lắng xảy ra dưới tác dụng của trọng lực. Thiết bị lọc bụi kiểu quán tính: lợi dụng lực quán tính khi khi thay đổi chiều hướng chuyển động để tách bụi ra khỏi dòng không khí. Thiết bị lọc bụi kiểu ly tâm - xiclon: dùng lực ly tâm để đẩy các hạt bụi ra xa tâm quay rồi chạm vào thành thiết bị, hạt bụi bị mất động năng và rơi xuống dưới đáy. Lưới lọc bằng vải, lưới thép, giấy, vật liệu rỗng bằng khâu sứ, khâu kim loại v.v...Trong thiết bị lọc bụi kiểu này các lực quán tính, lực trọng trường và cã lực khuyết tán đều phát huy tác dụng. Thiết bị lọc bụi bằng điện: dưới tác dụng của điện trường với điện áp cao, các hạt bụi được tích điện và bị hút vào các bản cực khác dấu. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 19 - 4. ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾNG ỒN VÀ RUNG ĐỘNG. 4.1. Tiếng ồn. 4.1.1. Khái niệm và những tiêu chuẩn cho phép. a. Khái niệm. Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh khác nhau về cường độ và tần số không có nhịp gây cho con ngươì cảm giác khó chịu. Về mặt vật lý, âm thanh là dao động sóng của môi trường đàn hồi gây ra bởi sự dao động của các vật thể, không gian trong đó có sóng âm lan truyền gọi là trường âm. áp suất dư trong trường âm gọi áp suất âm p đơn vị là dyn/cm2 hay là bar. Vận tốc lan truyền sóng âm phụ thuộc vào các tính chất và mật độ môi trường. Ví dụ ở nhiệt độ 00C vận tốc sóng âm trong không khí là 330 m/s, trong nước là 1440 m/s, trong thép, nhôm, thuỷ tinh là 5000 m/s, trong đồng 3500 m/s, trong cao su 40 ÷ 50 m/s. Dao động âm nghe được có tần số từ 16 ÷ 20 Hz đến 16 ÷ 20 kHz. Giới hạn này ở mỗi người không giống nhau, tuỳ theo lứa tuổi và cơ quan thính giác. Dao động dưới 16 ÷ 20 Hz gọi là hạ âm tai người không nghe được, dao động có tần số trên 16 ÷ 20 kHz gọi là siêu âm tai người cũng không nghe được. b. Phân loại tiếng ồn. Trong thực tế người ta phân ra nhiều loại tiếng ồn, tuy nhiên theo đặc tính của nguồn ồn có thể phân ra: - Tiếng ồn theo thống kê: Là loại tiếng ồn do tổ hợp hỗn loạn các âm khác nhau về cường độ và tần số trong phạm vi từ 500 ÷ 2000 Hz. - Tiếng ồn có âm sắc: Là loại tiếng ồn có âm đặc trưng. - Tiếng ồn theo đặc tính: Đây là loại tiếng ồn do đặc trưng tạo tiếng ồn gây ra trong đó được phân ra nguồn tạo tiếng ồn bao gồm các loại sau: + Tiếng ồn cơ học: sinh ra do sự chuyển động của các chi tiết hay bộ phận máy móc có khối lượng không cân bằng ví vụ tiếng ồn của máy phay. + Tiếng ồn va chạm: sinh ra do một số quy trình công nghệ, ví dụ: rèn, tán. + Tiếng ồn khí động: sinh ra khi hơi chuyển động với vận tốc cao, như động cơ phản lực, máy nén khí. Tiếng nổ hoặc xung sinh ra khi động cơ đốt trong làm việc... - Tiếng ồn theo dải tần số: Tùy thuộc vào tần số âm, tiếng ồn được ra các loại: + Tiếng ồn tần số cao:khi f > 1000 Hz + Tiếng ồn tần số trung bình khi f = 300 ÷ 1000Hz + Tiếng ồn tần số thấp:khi f < 300 Hz - Các trị số gần đúng về mức ồn của một số nguồn: + Tiếng ồn va chạm: Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 20 - Xưởng rèn 98 dB Xưởng đúc 112 dB Xưởng gò, tán 113 ÷ 117 dB + Tiếng ồn cơ khí: Máy tiện 93 ÷ 96 dB Máy bào 97 dB Máy khoan 114 dB Máy đánh bóng 108 dB + Tiếng ồn khí động: Môtô 105 dB Máy bay tuốc bin phản lực: 135 dB 4.1.2. Tác hại của tiếng ồn và biện pháp phòng chống. a. Tác hại của tiếng ồn. Cường độ tối thiệu của tiếng ồn có thể gây ra tác dụng mệt mỏi đối với cơ quan thính giác phụ thuộc vào tần số của nó. Đối với âm tần số 2000 ÷ 4000 Hz, tác dụng mệt mỏi sẻ bắt đầu từ 80 dB, đối với âm 5000 ÷ 6000 Hz thì từ 60 dB. Tiếng ồn gây mệt mỏi thính lực, đau tai, mất trạng thái cân bằng, ngủ chập chờn giật mình, mất ngủ, loét dạ dày, tăng huyết áp, hay cáu gắt, giảm sức lao động sáng tạo, giảm sự nhạy cảm, đầu óc mất tập trung, rối loại cơ bắp... Tiếng ồn gây điếc nghề nghiệp với đặc điểm là điếc không phục hồi được, điếc không đối xứng và không tự tiến triển khi công nhân thôi tiếp xúc với tiếng ồn. Tiếng ồn tác dụng vào các cơ quan chức phận của cơ thể, lâu ngày làm cho cơ quan này mất trạng thái cân bằng. Kết quả là cơ thể bị suy nhược, máu lưu thông bị hạn chế, tai bị ù, đầu óc bị căng thẳng, khả năng lao động sẽ bị giảm, sự chú ý của con người cũng bị giảm sút và từ đó có thể gây ra tai nạn. Những cơ thể khác nhau thì tác hại của tiếng ồn cũng khác nhau. Con người có khả năng thích nghi với điều kiện làm việc có tiếng ồn nhưng mức độ thích nghi này chỉ giới hạn trong khoảng nhất định. Khi làm việc lâu trong môi trường có tiếng ồn thì khả năng nghe sẽ bị rối loạn, mất khả năng nghe những âm thanh có tần số cao, thanh bổng, khả năng phục hồi thính giác rất thấp. Tiếng ồn lớn hơn cường độ 70 dB (đề xi ben) thì không còn nghe tiếng nói của người với nhau nữa và mọi sự thông tin bằng âm thanh của con ngươì trở thành vô hiệu. b. Biện pháp phòng chống. Năm 1880 Robert Koch một nhà y học của nước đức đã cảnh báo về tiếng ồn Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 21 - như sau: Một ngày nào đó con người sẽ phải đấu tranh với tiếng ồn như đã từng đấu tranh chống lại bệnh dịch tả hay dịch hạch. Một nhà chuyên môn khác nói: Nếu chúng ta không tiêu diệt tiếng ồn thì tiếng ồn sẽ tiêu diệt ta. Vì vậy chống ồn là nhiệm vụ rất quan trọng. Các biện pháp chủ yếu có thể là: - Làm giảm hay triệt tiêu tiếng ồn ngay từ nơi phát sinh. Đây là biện pháp chống ồn chủ yếu bao gồm việc lắp ráp có chất lượng các máy móc và động cơ, sửa chửa các máy móc đã cũ hay bị rơ. Giảm tiếng ồn tại nơi phát sinh có thể thực hiện theo các biện pháp sau: + Thay đổi tính đàn hồi và khối lượng của các bộ phận máy móc để thay đổi tần số dao động riêng của chúng tránh hiện tượng cộng hưởng. Thay thép bằng chất dẻo, tecxtolit, fibrôlit, v.v...mạ crôm hoặc quét mặt các chi tiết bằng sơn hoăc dùng các hợp kim ít vang hơn khi va chạm. + Tự động hoá quá trình công nghệ và áp dụng hệ thống điều khiển từ xa. Bố trí các xưởng ồn làm việc vào những buổi ít người làm việc. - Giảm tiếng ồn trên đường lan truyền. Áp dụng các nguyên tắc hút âm và cách âm. Năng lượng âm lan truyền trong không khí thì một phần năng lượng bị phản xạ một phần bị vật liệu của kết cấu hút và một phần xuyên qua kết cấu bức xạ vào phòng bên cạnh (Hình 3-1). Sự phản xạ và hút âm phụ thuộc vào tần số và góc tới của sóng âm, nó xảy ra do sự biến đổi cơ năng mà các phần tử không khí mang theo thành nhiệt năng do ma sát nhớt của không khí Hình 3-1. Sự lan truyền sóng trong các ống nhỏ của vật liệu xốp, hoặc do ma âm trên đường đi sát trong của vật liệu chế tạo các tấm mỏng chịu dao động dưới tác dụng của sóng âm. Vật liệu hút âm có các loại: vật liệu có nhiều lỗ nhỏ; vật liệu có nhiều lỗ nhỏ đặt sau tấm đục lỗ; kết cấu cộng hưởng; những tấm hút âm đơn. Để cách âm thông thường là làm vỏ bọc động cơ, máy nén và các thiết bị công nghiệp khác. Vỏ bọc làm bằng kim loại, gỗ, chất dẻo, kính và các vật liệu khác. Để giảm dao động truyền từ máy vào vỏ bọc, liên kết giữa chúng không làm cứng. Vỏ bọc nên đặt trên đệm cách chấn động làm bằng vật liệu đàn hồi. Để chống tiếng ồn khí động người ta có thể sử dụng các buồng tiêu âm, ống tiêu âm và tấm tiêu âm (hình 3-2; hình 3-3). Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 22 - - Dùng phương tiện bảo vệ cá nhân. - Những người làm việc trong các quá trình sản xuất có tiếng ồn, để bảo vệ tai cần có một số thiết bị sau: + Bông, bọt biển, băng đặt vào lỗ tai là những loại đơn giản nhất. Bông làm giảm ồn từ 3-14dB trong giải tần số 100-600Hz, băng tẩm mỡ giảm 18dB, bông len tẩm sáp giảm đến 30dB. + Dùng nút bằng chất dẻo bịt kín tai có thể giảm xuống 20dB. + Dùng nắp chống ồn úp bên ngoài tai có thể giảm tới 30dB khi tần số là 500Hz và 40dB khi tần số 2000Hz. Loại nắp chống ồn chế tạo từ cao su bọt không được thuận tiện lắm khi sử dụng vì người làm mệt do áp lực lên màng tai quá lớn. - Chế độ lao động hợp lý. + Những người làm việc tiếp xúc nhiều với tiếng ồn cần được bớt giờ làm việc hoặc có thể bố trí xen kẽ công việc để có những quãng nghỉ thích hợp. + Không nên tuyển lựa những người mắc bệnh về tai làm việc ở những nơi có nhiều tiếng ồn. + Khi phát hiện có dấu hiệu điếc nghề nghiệp thì phải bố trí để công nhân được ngừng tiếp xúc với tiếng ồn càng sớm càng tốt. 4.2. Rung động trong sản xuất. 4.2.1. Khái niệm và tiêu chuẩn cho phép rung cục bộ. a. Khái niệm. Khi các máy móc và động cơ làm việc không chỉ sinh ra các dao động âm tai ta nghe được mà còn sinh ra các dao động cơ học dưới dạng rung động của các vật thể và các bề mặt xung quanh. Rung động là dao động cơ học của vật thể đàn hồi sinh ra khi trọng tâm hoặc trục đối xứng của chúng xê dịch trong không gian hoặc do sự thay đổi có tính chu kỳ hình dạng mà chúng có ở trạng thái tĩnh. Các bề mặt dao động bao giờ cũng tiếp xúc với không khí xung quanh nó. Khi bề mặt dao động sẽ hình thành những sóng âm ngược pha trong lớp không khí kề sát với nó. Mức to của âm này được đo bằng áp suất âm hình thành. b. Tiêu chuẩn cho phép rung động cục bộ. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 23 - Theo hình thức tác động, người ta chia ra chấn động chung và chấn động cục bộ. Rung động chung gây ra dao động cho toàn cơ thể, còn chấn động cục bộ chỉ làm cho từng bộ phận cơ thể dao động. khi chịu tác dụng của rung động, thần kinh sẽ bị suy mòn, rối loạn dinh dưỡng, con người nhanh chóng cảm thấy uể oải và thờ ơ, lãnh đạm, tính thăng bằng ổn định bị tổn thương. Chấn động cũng gây ra bệnh khớp xương, làm rối loạn hệ thần kinh ngoại biên và trung ương. Phạm vi dao động mà ta thu nhận như rung động âm nằm trong giới hạn từ 12 đến 8000 Hz. 4.2.2. Tác hại của rung động và các biện pháp phòng tránh. a. Tác hại của rung động đối với sinh lý con người. - Khi cường độ nhỏ và tác động ngắn thì sự rung động này có ảnh hưởng tốt như tăng lực bắp thịt, làm giảm mệt mỏi... - Khi cường độ lớn và tác dụng lâu gây khó chịu cho cơ thể. Những rung động có tần số thấp nhưng biên độ lớn thường gây ra sự lắc xóc, nếu biên độ càng lớn thì gây ra lắc xóc càng mạnh. Tác hại cụ thể: + Làm thay đổi hoạt động của tim, gây ra di lệch các nội tạng trong ổ bụng, làm rối loạn sự hoạt động của tuyến sinh dục nam và nữ. + Nếu bị lắc xóc và rung động kéo dài có thể làm thay đổi hoạt động chức năng của tuyến giáp trạng, gây chấn động cơ quan tiền đình và làm rối loạn chức năng giữ thăng bằng của cơ quan này. + Rung động kết hợp với tiếng ồn làm cơ quan thính giác bị mệt mỏi quá mức dẫn đến bệnh điếc nghề nghiệp. + Rung động lâu ngày gây nên các bệnh đâu xương khớp, làm viêm các hệ thống xương khớp. Đặc biệt trong điều kiện nhất định có thể phát triển gây thành bệnh rung động nghề nghiệp. + Đối với phụ nữ, nếu làm việc trong điều kiện bị rung động nhiều sẽ gây di lệch tử cung dẫn đến tình trạng vô sinh. Trong những ngày hành kinh, nếu bị rung động và lắc xóc nhiều sẽ gây ứ máu ở tử cung. b. Các biện pháp phòng tránh rung động. - Biện pháp kỹ thuật: + Thay các bộ phận máy móc thiết bị phát ra rung động. + Kiểm tra thường xuyên và sửa chữa kịp thời các chi tiết máy bị mòn và hư hỏng hoặc gia công các chi tiết máy đặc biệt để khử rung. + Nền bệ máy thiết bị phải bằng phẳng và chắc chắn. Cách ly những thiết bị phát ra độ rung lớn bằng những rãnh cách rung xung quanh móng máy. + Thay sự liên kết cứng giữa nguồn rung động và móng của nó bằng liên kết giảm rung khác để giảm sự truyền rung động của máy xuống móng. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 24 - - Biện pháp tổ chức sản xuất. + Nếu công việc thay thế được cho nhau thì nên bố trí sản xuất làm nhiều ca kíp để san sẽ mức độ tiếp xúc với rung động cho mọi người. + Nên bố trí ca kíp sản xuất bảo đảm giữa 2 thời kỳ làm việc người thợ có quảng nghỉ dài không tiếp xúc với rung động. - Phòng hộ cá nhân. + Tác dụng của các dụng cụ phòng hộ các nhân chống lại rung động là giảm trị số biên độ dao động truyền đến cơ thể khi có rung động chung hoặc lên phần cơ thể tiếp xúc với vật rung động. + Giày vải chống rung: có miếng đệm lót bằng cao su trong đó có gắn 6 lò xo. Chiều dày miếng đệm 30mm, độ cứng của lò xo ở phần gót 13kg/cm, ở phần đế 10.5kg/cm. Khi tần số rung động từ 20-50Hz với biên độ tương ứng từ 0.4-0.1mm thì độ tắt rung của loại giày này đạt khoảng 80%. + Găng tay chống rung: được sử dụng khi dùng các dụng cụ cầm tay rung động hoặc đầm rung bề mặt. Yêu cầu chủ yếu là hạn chế tác dụng rung động ở chỗ tập trung vào tay. Sử dụng găng tay có lớp lót ở lòng bàn tay bằng cao su xốp dày sẽ làm giảm biên độ rung động với tần số 50Hz từ 3-4 lần. Dùng găng tay chống rung có lót cao su đàn hồi giảm sự truyền động rung động đi 10 lần. - Biện pháp y tế. + Không nên tuyển dụng những người có các bệnh về rối loạn dinh dưỡng thần kinh, mạch máu ở lòng bàn tay làm việc tiếp xúc với rung động. + Không nên bố trí phụ nữ lái các loại xe vận tải cở lớn vì sẽ gây ra lắc xóc nhiều. 5. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỆN TỪ TRƯỜNG VÀ HÓA CHẤT ĐỘC. 5.1. Điện từ trường. 5.1.1. Ảnh hưởng của điện từ trường. a. Khái niệm điện từ trường: Hiện nay trong nhiều ngành kinh tế, quốc phòng , trong các phòng nghiên cứu chúng ta sử dụng nhiều thiết bị máy móc liên quan đến điện trường tần số cao như rađa trong quốc phòng và các sân bay.... Ở nhiều ngành công nghiệp năng lượng của dòng điện tần số cao được dùng để đốt nóng kim loại như khi đúc, rèn nhiệt luyện, tán nối và còn dùng để sấy, dán thiêu kết các chất phi kim loại. Trường điện từ tần số cao thường là trường điện từ của các thiết bị công nghiệp có tần số trong khoảng từ 3.104 ÷ 3.106 Hz. Ta nhận thấy rằng xung quanh dòng điện xuất hiện đồng thời điện trường và từ trường. Khi dòng điện là dòng xoay chiều thì điện trường và từ trường liên hệ với nhau coi chung thành một trường điện từ thống nhất. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 25 - Trường điện từ tần số cao có khả năng lan truyền trong không gian với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng, và khi lan truyền nó mang theo năng lượng Trường điện từ có tác dụng bất lợi đến cơ thể con người và đáng ngại là cơ thể con người không có cảm giác g. khi có tác dụng của trường điện từ. b. Tác hại của trường điện từ đến cơ thể con người: Mức độ tác dụng của điện từ trường lên cơ thể con người phụ thuộc vào độ dài bước sóng, chế độ làm việc của nguồn (xung hay liên tục), cường độ bức xạ, thời gian tác dụng, khoảng cách từ nguồn đến cơ thể và sự cảm thụ riêng của từng người. Tần số càng cao (nghĩa là bước sóng càng ngắn), năng lượng điện từ mà cơ thể hấp thụ càng tăng: - Tần số cao 20% - Tần số siêu cao 25% - Tần số cực cao 50% Song tác hại của sóng điện từ không chỉ phụ thuộc vào năng lượng bức xạ bị hấp thụ, mà còn phụ thuộc vào độ thấm sâu của sóng bức xạ vào cơ thể. Độ thấm sâu càng cao thì tác hại càng nhiều. Độ thấm sâu cho trong bảng dưới đây và năng lượng hấp thụ nêu trên có thể làm rò các đặc tính sau đây của sóng điện từ: sóng đêcimet gây biến đổi lớn nhất đối với cơ thể so với sóng centimet và sóng met. Sóng milimet gây tác dụng bệnh lý rất ít so với sóng centimet và đêcimet. Bước sóng Độ thấm sâu Loại milimet Bề mặt lớp da Loại centimet Da và các tổ chức dưới da Loại đêximet Vào sâu trong các tổ chức 10 ÷ 15 cm Loại met Vào sâu trong các tổ chức >15 cm Dưới tác dụng của trường điện từ tần số cao, các ion của các tổ chức cơ thể sẽ chuyển động, trong các tổ chức này sẽ xuất hiện một dòng điện cao tần do đó một phần năng lượng của trường bị thấm hút. Trị số độ truyền dẫn của tổ chức cơ thể tỉ lệ với thành phần chất lỏng có trong tổ chức. Độ truyền dẫn mạnh nhất là ở máu và ở các bắp thịt, còn yếu nhất là trong các mô mỡ. Chiều dày lớp mỡ ở nơi bị bức xạ có ảnh hưởng đến mức độ phản xạ sóng bức xạ ra ngoài cơ thể. Đại não, tuỷ xương sống có lớp mô mỏng, còn mắt thì hoàn toàn không có nên các bộ phận này chịu tác dụng nhiều hơn cả. Chịu tác dụng của trường điện từ có tần số khác nhau và cường độ lớn hơn cường độ giới hạn cho phép một cách có hệ thống và kéo dài sẽ dẫn đến sự thay đổi một số chức năng của cơ thể, trước hết là hệ thống thần kinh trung ương, mà chủ yếu là làm rối loạn hệ thần kinh thực vật và rối loạn hệ thống tim mạch. Sự thay đổi đó có thể làm nhức đầu, dễ mệt mỏi, khó ngủ hoặc buồn ngủ nhiều, suy yếu toàn thân, sinh ra nóng nảy và hàng loạt triệu chứng khác. Ngoài ra nó có thể làm chậm mạch, giảm áp lực máu, đau tim, khó thở, làm biến đổi gan và lá lách. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 26 - Tác dụng của năng lượng điện từ trường tần số siêu cao có thể làm biến đổi máu, giảm sự thính mũi, biến đổi nhân mắt. Sóng vô tuyến còn có thể gây rối loạn kinh nguyệt của phụ nữ. Nói chung phụ nữ chịu tác hại của sóng điện từ nhiều hơn nam giới. Trị số cường độ bức xạ giới hạn cho phép của trường điện từ tần số cao tại chỗ làm việc được xác định như sau: Khi chịu tác dụng cả ngày làm việc thì cường độ bức xạ không lớn hơn 10mW/cm2, khi chịu tác dụng không quá 2h trong một ngày thì không lớn hơn 100mW/cm2, khi chịu tác dụng không quá 15-20 phút trong một ngày thì không lớn hơn 1mW/cm2 và khi đó nhất thiết phải đeo kính để bảo vệ mắt. 5.1.2. Các biện pháp phòng chống. Các cuộn cảm ứng là nguồn điện từ trường cao (cao tần). Trường bên trong ống nguy hiểm hơn trường bên ngoài ống dây cảm ứng. Đối với tụ điện tạo nguồn cao tần, để nung nóng các chất cách điện thì trường giữa hai tấm của tụ điện lớn hơn trường phía ngoài. Nguồn trường còn có thể là các phần tử riêng của máy phát các cuộn dây, tụ điện các dây dẫn.... tuỳ điều kiện công nghệ có thể đặt trong gian nhà sản xuất chung nhưng cần che phủ kín luồng công nghệ của nó; tốt nhất là đặt chúng trong các phòng riêng biệt. Trong khi sử dụng các thiết bị cao tần cần chú. đề phòng điện giật, tuân thủ các quy tắc an toàn. Phần kim loại của thiết bị phải được nối đất. Các dây nối đất phải ngắn và không cuộn tròn thành nguồn cảm ứng. Nước làm nguội thiết bị cũng có điện áp cần phải tìm cách nối đất. Các thiết bị cao tần cần được rào chắn, bao bọc để tránh tiếp xúc phải những phần có điện thế, cần có các panen và các bảng điều khiển, khi cần phải điều khiển từ xa. Để bao vây vùng có điện từ trường, người ta dùng các màn chắn bằng những kim loại có độ dẫn điện cao, vỏ máy cũng cần nối đất. Diện tích làm việc cho mỗi công nhân làm việc phải đủ rộng. Trong phòng đặt các thiết bị cao tần không nên có những dụng cụ bằng kim loại nếu không cần thiết, vì sẽ tạo ra nguồn bức xạ điện từ thứ cấp. Vấn đề thông gió cần được đặt ra theo yêu cầu về thông gió, chú ý là chụp hút đặt trên miệng lò không được làm bằng kim loại vì sẽ bị cảm ứng. 5.2. Hóa chất độc. 5.2.1. Đặc tính chung của hoá chất độc Chất độc công nghiệp là những chất dùng trong sản xuất, khi xâm nhập vào cơ thể dù chỉ một lượng nhỏ cũng gây nên tình trạng bệnh lý. Bệnh do chất độc gây ra trong sản xuất gọi là nhiễm độc nghề nghiệp. Khi độc tính chất độc vượt quá giới hạn cho phép, sức đề kháng của cơ thể yếu độc chất sẽ gây ra nhiễm độc nghề nghiệp. Các hoá chất độc có trong môi trường làm việc có thể xâm nhập vào cơ thể qua Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 27 - đường hô hấp, tiêu hoá và qua việc tiếp xúc với da. Các loại hoá chất có thể gây độc hại: CO, C2H2, MnO, ZnO2, hơi sơn, hơi ôxid Cr khi mạ, hơi các axit. Tính độc hại của các hoá chất phụ thuộc vào các loại hoá chất, nồng độ, thời gian tồn tại trong môi trường mà người lao động tiếp xúc với nó. Các chất độc càng dễ tan vào nước thì càng độc vì chúng dể thấm vào các tổ chức thần kinh của người và gây tác hại. Trong môi trường sản xuất có thể cùng tồn tại nhiều loại hoá chất độc hại. Nồng độ của từng chất có thể không đáng kể, chưa vượt quá giới hạn cho phép, nhưng nồng độ tổng cộng của các chất độc cùng tồn tại có thể vượt quá giới hạn cho phép và có thể gây trúng độc cấp tính hay mãn tính. 5.2.2. Các dạng nhiễm độc trong sản xuất cơ khí và Biện pháp phòng tránh. a. Tác hại của các chất độc: Các nhóm hoá chất độc - Nhóm 1: Chất gây bỏng, kích thích da, niêm mạc: như axit đặc, kiềm đặc và loãng (vôi tôi, NH3),... Nếu bị trúng độc nhẹ thì dùng nước lã dội rửa ngay. (chú ý bỏng nặng có thể gây choáng, mê man, nếu trúng mắt có thể bị mù. - Nhóm 2: Các chất kích thích đường hô hấp trên và phế quản: hơi Clo (Cl), NH3, SO3, NO, SO2, hơi fluo, hơi crôm v.v... Các chất gây phù phổi: NO2, NO3, Các o chất này thường là sản phẩm cháy các hơi đốt ở nhiệt độ trên 800 C. - Nhóm 3: Các chất làm người bị ngạt do làm loãng không khí như: CO2, C2H5, CH4, N2, CO... - Nhóm 4: Các chất độc đối với hệ thần kinh như các loại hydro cacbua, các loại rượu, xăng, H2S, CS2, v.v... - Nhóm 5: Các chất gây độc với cơ quan nội tạng như hydrocacbon, clorua metyl, bromua metyl v.v...Chất gây tổn thương cho hệ tạo máu: Benzen, phênôn. Các kim loại và á kim độc như chì, thuỷ ngân, mangan, hợp chất acsen, v.v... b. Một số chất độc và các dạng nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp - Nhiễm độc chì : Tác hại của chì (Pb) là làm rối loạn việc tạo máu, làm rối loạn tiêu hoá và làm suy hệ thần kinh, viêm thận, đau bụng chì, thể trạng suy sụp. Nhiễm độc chì mản tính có thể gây mệt mỏi, ít ngủ, ăn kém, nhức đầu, đau cơ xương, táo bón ở thể nặng có thể liệt các chi, gây tai biến mạch máu não, thiếu máu phá hoại tuỷ xương. Nhiểm độc chì có thể xảy ra khi in ấn, khi làm ắc quy,... Chì còn có thể xuất hiện dưới dạng Pb(C2H5)4, hoặc Pb(CH3)4. Những chất này pha vào xăng để chống kích nổ, song chì có thể xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp, đường da (rất dễ thấm qua lớp mỡ dưới da). Với nồng độ các chất này ≥ 0,182 ml/lít không khí thì có thể làm cho súc vật thí nghiệm chết sau 18 giờ. - Nhiễm độc thuỷ ngân: Thuỷ ngân (Hg) dùng trong công nghiệp chế tạo muối Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 28 - thuỷ ngân, làm thuốc giun, thuốc lợi tiểu, thuốc trừ sâu thâm nhập vào cơ thể bằng đường hô hấp, đường tiêu hoá và đường da. Thường gây ra nhiễm độc mãn tính: gây viêm lợi, viêm miệng, loét niêm mạc,viêm họng, run tay, gây bệnh Parkinson, buồn ngủ, kém nhớ , mất trí nhớ, rối loạn thần kinh thực vật. - Nhiễm độc acsen: Các chất acsen như As203 dùng làm thuốc diệt chuột; AsCl3 để sản xuất đồ gốm; As205 dùng trong sản xuất thuỷ tinh, bảo quản gỗ,diệt cỏ, nấm. Chúng có thể gây ra: + Nhiễm độc cấp tính: đau bụng, nôn, viêm thận,viêm thần kinh ngoại biên, suy tuỷ, cơ tim bị tổn thương và có thể gây chết người. + Nhiễm độc mãn tính: gây viêm da mặt, viêm màng kết hợp, viêm mũi kích thích, thủng vách ngăn mũi, viêm da thể chàm, dầy sừng và xạm da, gây bệnh động mạch vành, thiếu máu, gan to, xơ gan, ung thư gan và ung thư da. - Nhiễm độc crôm: Gây loét da, loét mạc mũi, thủng vách ngăn mũi, kích thích hô hấp gây ho, co thắt phế quản và ung thư phổi. - Nhiễm độc man gan: Gây rối loạn tâm thần và vận động, nói khó và dáng đi thất thường, thao cuồng và chứng Parkinson, rối loạn thần kinh thực vật, gây bệnh viêm phổi, viêm gan, viêm thận. - Nhiễm độc cacbon ôxit (CO): Cácbon ôxid là thứ hơi không màu, không mùi, không vị. Rất dễ có trong các phân xưởng đúc, rèn, nhiệt luyện, và có cả trong khí thải của ô tô hoặc động cơ đốt trong. CO gây ngạt thở, hoặc làm cho người bị đau đầu, ù tai ; ở dạng nhẹ sẽ gây đau đầu ù tai dai dẳng, sút cân, mệt mỏi, chống mặt, buồn nôn, khi bị trúng độc nặng có thể bị ngất xỉu ngay, có thể chết. - Nhiễm độc benzen (C6H6): Benzen có trong các dung môi hoà tan dầu, mỡ, sơn, keo dán, trong xăng ô tô,... Benzen gây chứng thiếu máu, chảy máu răng lợi, khi bị nhiểm nặng có thể bị suy tuỷ, nhiểm trùng huyết, nhiểm độc cấp có thể gây cho hệ thần kinh trung ương bị kích thích quá mức. - Nhiễm độc xianua (CN): Xianua xuất hiện dưới dạng hợp chất với NaCN khi thấm cácbon và thấm ni tơ. Đây là chất rất độc. Nếu hít phải hơi NaCN ở liều lượng 0,06 g có thể bị chết ngạt. Nếu ngộ độc xianua thì xuất hiện các chứng rát cổ, chảy nước bọt, đau đầu tức ngực, đái dắt, ỉa chảy,... Khi bị ngộ độc xianua phải đưa đi cấp cứu ngay. - Nhiễm độc axit cromic (H2CrO4): Loại này thường khi mạ crôm cho các đồ trang sức, mạ bảo vệ các chi tiết máy. Hơi axid crômic làm rách niêm mạc gây viêm phế quản, viêm da. - Nhiễm độc hơi ôxit nitơ ( NO2 ): Chúng có nhiều trong các ống khói các lò phản xạ , trong khâu nhiệt luyện thấm than, trong khí xả của động cơ Diezel và trong khi hàn điện. Hơi NO2 làm đỏ mắt, rát mắt, gây viêm phế quản, tê liệt thần kinh, hôn Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 29 - mê. Khi hàn điện có thể các các hơi độc và bụi độc : FeO, Fe2O3, SiO2, MnO, CrO3, ZnO, CuO,... c. Các biện pháp phòng tránh. - Cấp cứu: Đưa bệnh nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay quần áo bị nhiễm độc, ủ ấm cho nạn nhân. Cho ngay thuốc trợ tim, hay hô hấp nhân tạo, nếu bị bỏng do nhiệt phải cấp cứu bỏng, rửa da bằng xà phòng nơi bị thấm chất độc kiềm, axit phải rửa ngay bằng nước sạch. Nếu bệnh nhân bị nhiễm độc nặng đưa cấp cứu bệnh viện. - Biện pháp chung đề phòng về kỹ thuật: + Cấm để thức ăn, thức uống và hút thuốc gần khu vực sản xuất. + Các hoá chất phải bảo quản trong thùng kín, phải có nhãn rõ ràng. + Chú ý công tác phòng cháy chữa cháy. + Tự động hoá quá trình sản xuất hoá chất. + Tổ chức hợp lý hoá quá trình sản xuất : bố trí riêng các bộ phận toả ra hơi độc, đặt ở cuối chiều gió. Phải thiết kế hệ thống thông gió hút hơi khí độc tại chổ. - Dụng cụ phòng hộ cá nhân: Phải trang bị đủ dụng cụ bảo hộ lao động: mặt nạ phòng độc, găng tay, ủng, khẩu trang, v.v... - Biện pháp vệ sinh - ytế: - Xử lý chất thải trước khi đổ ra ngoài. - Có kế hoạch kiểm tra sức khoẻ định kỳ, phải có chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật. 6. ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG, MÀU SẮC VÀ GIÓ. 6.1. Ánh sáng. 6.1.1. Ánh hưởng của ánh sáng. Ánh sáng là nhân tố ngoại cảnh rất quan trọng đối với sức khoẻ và khả năng làm việc của công nhân. Trong sinh hoạt và lao động con mắt đòi hỏi phải được chiếu sáng thích hợp. Chiếu sáng thích hợp tránh mệt mỏi thị giác, tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Ánh sáng yêu cầu vừa phải, không quá sáng làm loá mắt, gây đầu óc căng thẳng; hoặc quá tối, không đủ sáng, nhìn không rõ cũng dễ gây tai nạn. Nhu cầu ánh sáng đối với một số trường hợp cụ thể như sau: Phòng đọc sách: 200 lux; xưởng dệt: 300 lux; nơi sửa chữa đồng hồ: 400 lux. 6.1.2. Các biện pháp chiếu sáng. Trong sản xuất người ta thường dùng hai nguồn sáng: ánh sáng tự nhiên và ánh sáng điện. Ánh sáng mặt trời và bầu trời sinh ra là ánh sáng có sẵn, thích hợp và có Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 30 - tác dụng tốt về mặt sinh lý đối với con người, song thất thường phụ thuộc vào thời tiết thiên nhiên. Độ rọi do ánh sáng tản xạ của bầu trời gây ra trên mặt đất về mùa hè đạt đến 60.000 - 70.000 lux; về mùa đông cũng đạt tới 8.000 lux. Dùng điện thì có thể điều chỉnh được ánh sáng một cách chủ động nhưng lại rất tốn kém. a. Chiếu sáng tự nhiên: Ánh sáng mặt trời khi chiếu xuống mặt đất đi xuyên qua lớp khí quyển bị các hạt trong tầng không khí hấp thụ nên các tia truyền thẳng (trực xạ) một mặt bị yếu đi, mặt khác bị các hạt khuyết tán sinh ra áng sáng tán xạ làm cho bầu trời sáng lên. b. Chiếu sáng nhân tạo: Chiếu sáng điện cho sản xuất phải tạo ra trong phòng một chế độ ánh sáng đảm bảo điều kiện nhìn rỏ, nhìn tinh và phân giãi nhanh các vật nhìn của mắt trong quá trình lao động. - Nguồn sáng: Đèn điện chiếu sáng thường dùng đèn nung nóng, đèn huỳnh quang, đèn thuỷ ngân cao áp. + Đèn nung sáng: Phát sáng theo nguyên lý các vật rắn khi được nung trên 0 500 C sẽ phát sáng. Loại đèn này có nhiều loại với công suất 1 ÷ 1.500 W, đèn nung sáng rất phù hợp với tâm sinh lý con người vì chứa nhiều màu đỏ, vàng, lại rẻ tiền dể chế tạo, dể bảo quản và sử dụng. + Đèn huỳnh quang: là nguồn sáng nhờ phóng điện trong chất khí, có nhiều loại như đèn thuỷ ngân thấp, cao áp; đèn huỳnh quang thấp cao áp; và các đèn phóng điện khác. Chúng có ưu điểm hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài, có quang phổ gần giống ánh sáng ban ngày. Tuy nhiên giá thành cao, sử dụng phức tạp hơn, lại khó nhìn. c. Các phương thức chiếu sáng cơ bản: - Chiếu sáng chung: trong toàn phòng có một hệ thống chiếu sáng từ trên xuống gây ra một độ chói không gian nhất định và một độ rọi nhất định trên toàn bộ các mặt phẳng lao động. - Chiếu sáng cục bộ: chia không gian lớn của phòng ra nhiều không gian nhỏ, mỗi không gian nhỏ có một chế độ chiếu sáng khác nhau. - Chiếu sáng hổn hợp: vừa chiếu sáng chung vừa kết hợp với chiếu sáng cục bộ. 6.2. Màu sắc. 6.2.1. Ảnh hưởng của màu sắc. Màu sắc có 2 cảm giác: màu nóng và màu lạnh. Các màu có cảm giác nóng là các màu như: đỏ, vàng, cam, hồng... Màu có cảm giác lạnh như: xanh, tím, trắng, đen... Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 31 - Màu sắc có ảnh hướng rất lớn đến tinh thần người lao động, các màu có ảnh hưởng tích cực cho tinh thần: Màu xanh da trời, xanh lá cây và hồng. - Màu xanh da trời là biểu hiện của sự thanh bình. - Màu thiên thanh giúp cho con người tĩnh tâm và tạo ra hệ thống miễn dịch tốt hơn cho cơ thể. - Màu xanh lá cây có tác dụng giảm huyết áp và tẩy sạch máu, lập lại sự cân bằng cho các rối loạn tình cảm, làm giảm giận dữ. - Màu hồng thì gây kích thích, tạo hưng phấn, cũng như tăng khả năng cảm thụ và cho phép tập trung tốt hơn. Các màu sáng giúp cho hệ hô hấp hoạt động tốt hơn. Nên tạo thêm nhiều ánh sáng là điều hết sức cần thiết bởi ánh sáng trắng sẽ kích thích cơ thể tiết ra những chất cải thiện khả năng làm việc, tư duy. 6.2.2. Các màu sắc thường sử dụng trong sản xuất. Màu sắc sử dụng trong sản xuất thường có 2 cảm giác: màu nóng và màu lạnh. Các màu có cảm giác nóng là các màu như: đỏ, vàng, cam, hồng...thường được dùng trong các biển báo, tín hiệu cảnh giới, tín hiệu nguy hiểm… Màu có cảm giác lạnh như: xanh, tím, trắng, đen... thường được sử dụng làm các bảng thông báo, biển báo chỉ dẫn an toàn, đèn tín hiệu, đèn chỉ dẫn thiết bị đang hoạt động an toàn… 6.3. Gió. 6.3.1. Tác dụng của gió. Môi trường không khí có tính chất quyết định đối với việc tạo ra cảm giác dễ chịu, không bị ngột ngạt không bị nóng bức hay quá lạnh. Môi trường làm việc luôn bị ô nhiễm bởi các hơi ẩm, bụi bẩn, các chất khí do hô hấp thải ra và bài tiết của con người: CO2, NH3, hơi nước,... Ngoài ra còn các chất khí khác do quá trình sản xuất sinh ra như CO, NO2, các hơi axít, bazơ, cho nên thông gió có 2 mục đích hết sức quan trọng: là chống nóng và khử bụi, khử hơi khí độc, đảm bảo cho môi trường làm việc trong sạch. 6.3.2. Các biện pháp thông gió. a. Thông gió tự nhiên: Thông gió tự nhiên là trường hợp thông gió mà sự lưu thông không khí từ bên ngoài vào nhà và từ trong nhà thoát ra ngoài thực hiện được nhờ những yếu tố tự nhiên như nhiệt thừa và gió. Sử dụng và bố trí hợp lý các cửa vào và gió ra. Các cửa có cấu tạo lá chớp khép mở được để làm lá hướng dòng và thay đổi diện tích cửa. Như vậy ta có thể thay đổi được hướng và hiệu chỉnh được lưu lượng gió vào, ra. b. Thông gió cơ khí (nhân tạo): Thông gió cơ khí là thông gió có sử dụng máy quạt chạy bằng động cơ điện để làm không khí vận chuyển từ chỗ này đến chỗ Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 32 - khác. Trong thực tế thường dùng hệ thống thông gió cơ khí thổi vào và hệ thống thông gió cơ khí hút ra. - Hệ thống thông gió chung: Là hệ thống thông gió thổi vào hoặc hút ra có phạm vi tác dụng trong toàn bộ không gian của phân xưởng. Nó phải có khả năng khử nhiệt thừa và các chất độc hại toả ra trong phân xưởng. Có thể sử dụng thông gió tự nhiên hoặc cơ khí. - Hệ thống thông gió cục bộ: Là hệ thống thông gió có phạm vi tác dụng trong từng vùng hẹp riêng biệt của phân xưởng. Hệ thống thổi cục bộ: gọi là hoa sen không khí, thường được bố trí để thổi không khí sạch và mát vào những vị trí thao tác cố định của công nhân, mà tại đó toả nhiều khí hơi có hại và nhiều nhiệt. Hệ thống hút cục bộ: là hệ thống dùng để hút các chất độc hại ngay tại nguồn sản sinh ra chúng và thải ra ngoài, không cho lan toả ra các vùng chung quanh trong phân xưởng. Đây là biện pháp thông gió tích cực và triệt để nhất để khử độc hại. - Lọc sạch bụi trong không khí: Trong các nhà máy xí nghiệp sản xuất ví dụ các nhà máy hoá học, các nhà máy luyện kim v.v.. thải ra một lượng không khí và hơi độc hại đối với sức khoẻ con người và động thực vật. Vì vậy để đảm bảo môi trường trong sạch, các khí thải công nghiệp trước khi thải ra bầu khí quyển cần được lọc tới những nồng độ cho phép. Có các phương pháp làm sạch khí thải sau: + Phương pháp ngưng tụ: chỉ áp dụng khi áp suất hơi riêng phần trong hỗn hợp khí cao, như khi cần thông các thiết bị, thông van an toàn. + Phương pháp đốt cháy có xúc tác: để tạo thành CO2 và H2O có thể đốt cháy tất cả các chất hữu cơ, trừ khí thải của nhà máy tổng hợp hữu cơ, chế biến dầu mỏ v.v... + Phương pháp hấp thụ: chất hấp thụ là nước, sản phẩp hấp thụ không nguy hiểm nên có thể thải ra ngoài cống rãnh. + Phương pháp hấp phụ: thường dùng silicagen để hấp thụ khí và hơi độc. Cũng có thể dùng than hoạt tính các loại, thường dùng để làm sạch các chất hữu cơ rất độc. + Để lọc sạch bụi trong các phân xưởng người ta thường dùng các hệ thống hút bụi Xiclon. Không khí mang bụi được hút vào xiclon tại đó chúng được lọc sạch bụi và thổi ra không khí sạch. 6.4. Ảnh hưởng của các điều kiện lao động khác. Tư thế làm việc không thuận lợi: khi ngồi ở ghế thắp mà tay phải với cao hơn, Nơi làm việc chật hẹp tạo nên thế đứng không thuận lợi , làm việc ở tư thế luôn đứng, luôn vươn người về một phía nào đó,... Vị trí làm việc khó khăn: ở trên cao, dưới nước, trong những hầm sâu, không gian làm việc chật hẹp, vị trí làm việc gần nơi nguy hiểm nên bị khống chế tầm với, không chế các chuyển động,... Các dạng sản xuất đặc biệt: ví dụ tiếp xúc với các máy truyền nhắn tin luôn chịu ảnh hưởng của sóng điện từ, làm việc lâu bên máy vi tính, tiếp xúc với các loại keo dán đặc biệt, Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 33 - làm việc ở những nơi có điện cao thế, có sóng vô tuyến v.v... CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1. Trình bầy tác hại của vi khí hậu đối với người lao động và các biện pháp đề phòng tác hại của vi khí hậu đối với người lao động. Câu 2. Trình bày tiêu chuẩn cho phép, tác hại và biện pháp phòng chống rung động. Câu 3. Trình bày mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động. Câu 4. Trình bày các dạng nhiễm độc trong sản xuất cơ khí. Câu 5. Trình bày tính chất của công tác bảo hộ lao động. Câu 6. Để phòng chống bụi trong sản xuất người ta thường áp dụng những biện pháp nào ?. Câu 7. Làm thế nào để phòng chống điện từ trường không gây ảnh hưởng tới cơ thể người lao động ? Câu 8. Cho biết hai biện pháp làm giảm hay triệt tiêu tiếng ồn ngay từ nơi phát sinh và giảm tiếng ồn trên đường lan truyền. Câu 9: Trong sản xuất thường áp dụng các biện pháp như thế nào để phòng chống rung động. Câu 10. Cho biết các nguyên nhân cơ bản có thể gây ra tai nạn lao động. Câu 11. Những công nhân làm việc thường xuyên trong môi trường có nhiều bụi mà không được bảo hộ tốt thường sẩy ra các tác hại và bệnh lý như thế nào ?. Câu 12. Cho biết tiếng ôn gây ra tác hại như thế nào đối với người lao động ? Câu 13. Để phòng tránh nhiễm độc trong sản xuất thường có các biện pháp nào ? Câu 14. Cho biết các đặc tính chung của hoá chất độc. Câu 15. Cho biết các yếu tố như thế nào thì được coi là nguy hiểm và có hại trong quá trình sản xuất ? Câu 16. Cho biết thế nào là tai nạn lao động ?. Lấy một ví dụ cụ thể về một vụ tai nạn lao động nào đó và cho biết nguyên nhân dẫn tới tai nạn đó. Câu 17. Cho biết thế nào là bệnh nghề nghiệp ?. Lấy một ví dụ cụ thể về một trường hợp nào đó bị mắc bệnh nghề nghiệp và cho biết nguyên nhân. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 34 - CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG 1. KỸ THUẬT AN TOÀN TRONG GIA CÔNG CƠ KHÍ. 1.1. Những nguyên nhân gây ra chấn thương trong cơ khí. 1.1.1. Gia công cơ khí nguội. Hiện nay phần lớn các đối tượng gia công cơ khí nguội được tiến hành sản xuất thủ công là chủ yếu; 1 phần khác gia công trên các máy bán tự động và tự động. Các nguyên nhân chủ yếu có thể gây ra tai nạn lao động như sau: - Các dụng cụ cầm tay như cưa sắt, dũa, đục, va chạm vào người lao động. - Một phần các máy đơn giản (máy ép cỡ nhỏ, máy khoan bàn, đá mài máy v.v...) có kết cấu không đảm bảo độ bền, thiếu sự đồng bộ, thiếu các cơ cấu hãm an toàn v.v... - Do người lao động dùng ẩu các dụng cụ cầm tay như búa bị lỏng cán, chìa khoá không đúng cỡ…. - Gá kẹp chi tiết trên bàn cặp (ê tô) không chắc chắn, không đúng kỹ thuật, bố trí các bàn nguội không đúng kỹ thuật, giữa hai bàn cặp đối diện không có lưới bảo vệ. - Đá mài được lắp vào máy không cân, không có kính chắn bảo vệ hoặc tư thế đứng mài chi tiết không né tránh được phương quay của đá mài, mài các vật có khối lượng lớn lại tỳ mạnh v.v...Có thể gây ra các tai nạn. - Tư thế đứng cưa, dũa, đục v.v...trong khi làm nguội cơ khí nói chung không đúng (như tư thế đứng thẳng chân có thể gây đau ở vùng thắt lưng và sau gáy do tác dụng của rung cộng hưởng đối với cơ thể. Nếu đứng không ngay lưng có thể dẫn tới bệnh vẹo cột sống). - Việc gò tôn mỏng đi kèm các động tác cắt, dập trước khi đem gò. ở dạng gia công này, tai nạn lao động thường xuất hiện dưới dạng chân tay bị cứa đứt. Khi thao tác các máy đột, dập nếu vô ý có thể bị dập tay hoặc đứt cả vài ngón tay hoặc nghiền cả bàn tay, có thể bị suy nhược thể lực, giảm khả năng nghe, đau đầu, choáng v.v... 1.1.2. Gia công cơ khí nóng. a. Trong đúc kim loại. - Khi đúc kl ở nhiệt độ cao dễ bị bức xạ nhiệt, các tia tử ngoại có năng lượng lớn, có thể gây viêm mắt, bỏng da. - Bị bỏng do nước kim loại bắn toé vào cơ thể hoặc do các vật tiếp xúc với nước kim loại. - Trong việc xử lý các ba via của các vật đúc cũng dễ bị xay xát chân tay do mặt xù xì và sắc cạnh của vật đúc gây nên. b. Trong hàn kim loại. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 35 - - Điện giật. - Hồ quang hàn có độ bức xạ rất mạnh dễ làm cháy bỏng da, làm đau mắt. - Khi hàn kim loại lỏng bắn toé nhiều dể gây bỏng da thợ hàn hay những người xung quanh. - Ngọn lửa hồ quang hàn còn có thể gây cháy, nổ. - Môi trường làm việc của thợ hàn có nhiều khí độc hại và bụi sinh ra khi cháy que hàn như: CO2, F2, bụi măng gan, bụi ôxit kẽm.... rất có hại cho hệ hô hấp & cho sức khoẻ của công nhân. - Khi hàn hơi dễ gây cháy, sinh ra nổ bình hoặc sinh ra hoả hoạn. c. Trong gia công áp lực: Bị bỏng do dụng cụ gia công và phôi rèn dập,...Các vảy sắt nóng bắn vào. d. Trong nhiệt luyện, mạ điện: - Dễ bị bỏng do tiếp xúc với vật đang ở nhiệt độ cao. - Dễ bị nhiểm độc do môi trường nhiệt luyện: Xianua NaCN, KCN chất hay dùng khi thấm cácbon và nitơ Khi mạ điện do tác dụng của các chất điện phân. - Dung dịch điện phân khi mạ: axit, xianua, xút (NaOH), CrO3, có thể gây bỏng da, huỷ hoại da do xút hay axit, nước nóng. 1.2. Những biện pháp an toàn trong cơ khí. 1.2.1. An toàn lao động trong gia công cơ khí nguội. - Bàn nguội phải phù hợp với kích thước quy định: chiều rộng khu làm việc một phía không được nhỏ hơn 750 mm và khi làm việc hai phía phải > 1300mm. Chiều cao bàn nguội là (850÷950) mm. Bàn nguội làm việc hai phía, ở phía chính giữa phải có lưới chắn với kích thước quy định: chiều cao không thấp hơn 800 mm và lỗ mắt lưới không lớn hơn 3 x 3 mm. Khi bàn nguội làm việc một phía phải tránh hướng phoi bắn về phía chỗ làm việc của các công nhân khác. Êtô lắp trên bàn nguội phải chắc chắn, khoảng cách giữa hai êtô trên một bàn không được nhỏ hơn 100 mm. - Thiết bị gia công nguội phải được đặt trên nền có đủ độ cứng vững để chịu được tải trọng của bản thân thiết bị và lực động do thiết bị khi làm việc sinh ra. Tất cả các bộ truyền động của các máy đều phải che chắn kín phần chuyển động và phần điện. Các bộ phận điều khiển máy phải bố trí thuận tiện thao tác. Các nút điều khiển phải nhạy và làm việc tin cậy. - Chỗ làm việc của công nhân cần có giá, tủ, ngăn bàn, để chứa dụng cụ và phải có chỗ để xếp phôi liệu và thành phẩm, được bố trí gọn và không trở ngại đến các đường vận chuyển trong nội bộ phân xưởng. - Khi hết ca phải ngắt nguồn điện lau chùi máy, thu dọn dụng cụ gọn gàng, bôi trơn những nơi quy định. Cấm dùng tay không lau chùi máy mà phải dùng giẻ, bàn chải sắt. Tr-êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai 36 - 1.2.2. Kỹ thuật an toàn khi gia công cơ khí nóng. a. Kỹ thuật an toàn khi đúc. Chống nóng, chống cháy bỏng và mất nước, đeo kính để chống tia bức xạ với năng lượng lớn. Phải có áo quần và dày dép bảo hộ để tránh bị bỏng. Không làm mát bằng nước mà chỉ cho phép dùng quạt gió. Phải trang bị phòng hộ lao động để tránh bụi và khí độc do quá trình nấu luyện sinh ra. (bụi Mn, Si, CO, SiO2). b. Kỹ thuật an toàn gia công áp lực. - Cán các loại búa tay, búa tạ phải làm bằng gỗ, thớ dọc, khô, dẽo,

Use Quizgecko on...
Browser
Browser